Thientamism

Sấm Giảng Khuyến Thiện Trọn Bộ

Đăng lúc: 19:39 PM 02/11/2017 0   1986

Cùng Chủ Đề

Long Hoa Hội
Long Hoa Hội - Rằm Tháng Giêng Năm Tân Sửu 2021Đàn Cơ HỘI LONG...
Diêu Trì Kim Mẫu
Diêu Trì Kim Mẫu - Phật Mẫu Diêu Trì - Diêu Trì Địa Mẫu Nhớ...
Khai Thị Về Chú Lăng Nghiêm

Sấm Giảng Khuyến Thiện Trọn Bộ

Mời xem video ở trên

TRANG 1

Hạ ngươn nay đã hết đời,
Phong ba biến chuyển đổi dời gia cang.
Năm Mèo Kỹ Mão rõ ràng,
Khắp trong trần hạ nhộn nhàng xiết chi.
Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
Bá gia khổ não vậy thì từ đây.
Cơ trời thế cuộc đổi xây,
Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm gian.
Thấy đời ly loạn bất an,
Khắp trong các nước nhộn nhàng đao binh.
Kẻ thời phụ nghĩa bố kình,
Người thời trung hiếu chẳng gìn vẹn hai.
Nên Điên khuyên nhủ bằng nay,
Xin trong lê thứ ngày rày tỉnh tâm.
Cơ thâm thì họa diệt thâm,
Nào trong sách sử có lầm ở đâu.
Người khôn nghe nói càng rầu,
Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
Rồi sau sẽ thấy hùm beo,
Khắp trong bá tánh hiểm nghèo đáng thương.
Điên nầy vưng lịnh Minh Vương,
Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.
Thấy trong bá tánh phàm trần,
Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.

TRANG 2

Mặc ai bàn tán gần xa,
Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.
Kẻ xa thì mến đức ân,
Làm cho người gần ganh ghét khinh khi.
Nam mô, mô Phật từ-bi,
Miệng thì niệm Phật lòng thì tà gian.
Khắp trong bá tánh trần hoàn,
Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên.
Chẳng ham danh vọng bạc tiền,
Quyết lòng dắt chúng về miền Bồng Lai.
Điên nầy xưa cũng như ai,
Vào các ra đài tột bực giàu sang.
Nghĩ suy danh lợi chẳng màng,
Bèn lên ẩn dật lâm san tu trì.
Nhờ Trời may mắn một khi,
Thẩn thơ lại gặp Đức Thầy Bửu Sơn.
Cuối đầu Điên tỏ nguồn cơn,
Động lòng bác ái ra ơn dạy truyền.
Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,
Nội trong sáu khắc biết liền Thiên cơ.
Chuyện nầy thôi nói sơ sơ,
Để rộng thì giờ nói chuyện chơn tu.
Dương trần kẻ trí người ngu,
Ham võng ham dù danh lợi xuê xang.
Cờ đà đến nước bất an,
Chẳng lo tu niệm tham gian làm gì.
Phật, Trời thương kẻ nhu mì,
Trọng cha, yêu Chúa kính vì tổ tông.
Ngồi buồn nói chuyện bông lông,
Khắp trong trần hạ máu hồng nhuộm rơi.
Chừng nào mới đặng thảnh thơi,
Dậu Phật ra đời thế giới bình yên.
Điên nầy Điên của Thần Tiên,
Ở? trên Non Núi xuống miền Lục Châu.
Đời còn chẳng có bao lâu,
Rán lo tu niệm đặng chầu Phật Tiên.

TRANG 3

Thế gian ít kẻ làm hiền,
Nhiều người tàn bạo làm phiền Hóa Công.
Thế gian chuyện có nói không,
Đến hội Mây Rồng thân chẳng toàn thây.
Việc đời đến lúc cấn gay,
Mà cũng tối ngày nói xéo nói xiên.
Dương trần tội ác liên miên,
Sau xuống huỳnh tuyền Địa ngục khó ra.
Điên nầy nói chuyện gần xa,
Đặng cho lê thứ biết mà lo tu.
Tu cho qua cửa Diêm phù,
Khỏi sa Địa ngục ngao du Thiên đài.
Đường đời chẳng có bao dai,
Nên viết một bài cho bá tánh coi.
Tuồng đời như pháo châm ngòi,
Bá gia yên lặng mà coi Khùng nầy.
Khùng thời ba tớ một Thầy,
Giảng dạy dẫy đầy rõ việc Thiên cơ.
Điên đây còn dại còn khờ,
Yên lặng như tờ coi chúng làm sao.
Bá gia kẻ thấp người cao,
Chừng thấy máu đào chúng mới chịu tu.
Bây giờ giả dại giả ngu,
Cũng như Nhơn Quí ở tù ngày xưa.
Lúc nầy kẻ ghét người ưa,
Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.
Dương trần biếm nhẻ gần xa,
Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.
Ngồi buồn nhớ chuyện xa xăm,
Dạo trong Bảy Núi cười thầm sư mang.
Nói rằng lòng chẳng tham sang,
Sao còn ham của thế gian làm gì ?
Việc nầy thôi quá lạ kỳ,
Cũng trong Phật Giáo sao thì chê khen.
Lúc nầy tâm trí rối beng,
Tiếng huyễn tiếng kèn mặc ý bá gia.
Hết gần rồi lại tới xa,
Dân sự nhà nhà bàn tán cười chơi.

TRANG 4

Chuyện nầy cũng lắm tuyệt vời,
Giả như Hàn Tín đợi thời lòn trôn.
Đến sau danh nổi như cồn,
Làm cho Hạng Võ mất hồn mấy khi.
Chuyện xưa thanh sử còn ghi,
Khen anh Hàn Tín vậy thì mưu cao.
Chuyện đời phải có trước sau,
Điên Khùng khờ dại mà cao tu hành.
Bá gia phải rán làm lành,
Niệm Phật cho rành đặng thấy Thần Tiên.
Thương đời trong dạ chẳng yên,
Khắp trong lê thứ thảm phiền từ đây.
Ngày nay thế cuộc đổi xây,
Rán lo tu niệm đặng Thầy cứu cho.
Mảng theo danh lợi ốm o,
Sẳn của hét hò đứa ở người ăn.
Đừng khi nhà lá một căn,
Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.
Giàu sang như nước trên nguồn,
Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.
Cửu Huyền Thất Tổ chẳng thờ,
Để thờ những đạo ngọn cờ trắng phau.
Dương trần bụng dạ nhiều màu,
Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.
Lời xưa người cổ còn ghi,
Những việc lạ kỳ nay có hay chưa ?
Chưa là với kẻ chẳng ưa,
Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu.
Bá gia mau kíp lo âu,
Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.
Việc đời nói riết thêm nhây,
Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.
Mèo kêu bá tánh lao xao,
Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.
Con ngựa lại đá con dê,
Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.

TRANG 5

Khỉ kia cũng bị xáo xào,
Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.
Nói ra nước mắt rưng rưng,
Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung.
Việc đời nói chẳng có cùng,
Đến sau mới biết đây dùng kế hay.
Bây giờ mắc việc tà tây,
Nên mới làm vầy cho khỏi ngại nghi.
Thiên cơ số mạng biết tri,
Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi ?
Những người giả đạo bồi hồi,
Còn chi linh thính mà ngồi mà nghe.
Việc đời như nước trong khe,
Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.
Điên nầy nối chí theo Khùng,
Như thể dây dùn đặng cứu bá gia.
Sau nầy kẻ khóc người la,
Vài ba năm nữa biết mà tà tinh.
Điên biết chẳng lẽ làm thinh,
Nói cho bá tánh mặc tình nghe không.
Việc Điên, Điên xử chưa xong,
Lục Châu chưa giáp mà lòng ủ ê.
Người nghe đạo lý thì mê,
Kẻ lại nhún trề nói : Lão kiếm cơm.
Thấy nghèo coi thể rác rơm,
Rồi sau mới biết rác rơm của Trời.
Vì Điên chưa đến cái thời,
Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.
Từ đây sắp đến thảm thê,
Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
Tới chừng đến việc ngóng trông,
Trách rằng Trời Phật không lòng từ bi.
Di Đà lục tự rán ghi,
Niệm cho tà quỉ vậy thì dang ra.
Khuyên đừng xài phí xa hoa,
Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.

TRANG 6

Đừng khinh những kẻ đui mù,
Đến sau sẽ khổ gấp mười mù đui.
Đời nay xét tới xem lui,
Chừng gặp tuổi Mùi bá tánh biết thân.
Tu hành sau được đức ân,
Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Điên gay chèo quế dạo miền Lục Châu.
Tới đâu thì cũng như đâu,
Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.
Bá gia ai biết thì ưa,
Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên cơ.
Khi già lúc lại trẻ thơ,
Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
Đi nhiều càng thảm càng phiền,
Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
Tay chèo miệng lại hát ca,
Ca cho bá tánh biết đời loạn ly.
A Di Đà Phật từ bi,
Ở bên Thiên Trước chứng tri lòng nầy.
Từ ngày thọ giáo với Thầy,
Dẹp lòng vị kỷ đầy lòng yêu dân.
Ngày nay chẳng kể tấm thân,
Miễn cho bá tánh được gần Bồng Lai.
Đời nầy vốn một lời hai,
Khắp trong trần hạ mấy ai tu trì.
Đời nầy giành giựt làm chi,
Tới việc ly kỳ cũng thả trôi sông.
Thuyền đưa Tiên cảnh Non Bồng,
Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.
Cứ lo làm việc tà tây,
Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.
Chừng đau niệm Phật lăng xăng,
Phật đâu chứng kịp lòng người ác gian.
Thấy đời mê muội lầm than,
Ăn bạ nói càng tội lỗi chỉn ghê.
Chữ tu không phải lời thề,
Mà không nhớ đến đặng kề Tiên bang.

TRANG 7

Nói nhiều trong dạ xốn xang,
Cùng hết xóm làng tàn ác nhiều hơn.
Thầy chùa như thể cây sơn,
Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.
Buồn thay cho lũ ác tăng.
Làm điều dối thế cho hư đạo mầu.
Di Đà Phật Tổ thêm rầu,
Giận trong tăng chúng sao lừa dối dân.
Có thân chẳng liệu lấy thân,
Tu theo lối cũ mau gần DiêmVương.
Bá gia lầm lạc đáng thương,
Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.
Dương trần nhiều kẻ ham sân,
Cứ theo biếm nhẽ xa gần người Điên.
Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,
Viết cho trần hạ bớt phiền lo tu.
Thương đời chớ chẳng kiếm xu,
Buồn cho bá tánh hết mù tới đui.
Có chi mà gọi rằng vui,
Khắp trong bá tánh gặp hồi gian lao.
Từ đây hay ốm hay đau,
Rán tu đem được Phật vào trong tâm.
Lời hiền nói rõ họa thâm,
Đặng cho bá tánh tỉnh tâm tu hành.
Ngày nay Điên mở đạo lành,
Khắp trong lê thứ được rành đường tu.
Nay đà gần cuối mùa thu,
Hết ngu tới dại công phu gần thành.
Xác trần đạo lý chưa rành,
Mấy ai mà được lòng thành với Điên.
Điên nầy sẽ mở xích xiềng,
Dắt dìu bá tánh gần miền Tiên bang.
Không ham danh lợi giàu sang,
Mong cho bá tánh được nhàn tấm thân.
Thường về chầu Phật tấu trần,
Cầu xin Phật Tổ ban lần phước ơn.
Nay đà bày tỏ nguồn cơn,
Cho trong trần hạ thiệt hơn tỏ tường.

TRANG 8

Phật, Trời thấy khổ thời thương,
Muốn cho lê thứ thường thường làm nhơn.
Đừng ham tranh đấu thiệt hơn,
Tu niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi !
Hồng trần biển khổ thấy rồi,
Rán tu nhơn đạo cho tròn mới hay.
Đừng ham nói đắng nói cay,
Cay đắng sau nầy đau đớn, sầu bi.
Tu hành tâm trí rán trì,
Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.
Đừng làm tàn ác ham gây,
Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.
Dương trần lắm chuyện đôi co,
Phải dẹp vị kỷ mà lo tu hành.
Kệ kinh tưởng niệm cho sành,
Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai.
Lúc nầy thế giới bi ai,
Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.
Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,
Từ đây đạo hạnh được mầm thanh cao.
Hồng trần lao khổ xiết bao,
Khuyên trong lê thứ bước vào đường tu.
Xưa nay đạo hạnh quá lu,
Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.
Mặc tình kẻ ghét người ưa,
Điên chẳng nói thừa lại với thứ dân.
Quan trường miệng nói vang rân,
Mà tâm dính chặt hồng trần bụi nhơ.
Buồn đời nên mới làm thơ,
Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.
Người đời lòng dạ bất tri,
Trông cho làm bịnh dị kỳ nó coi.
Dương gian chậu úp được voi,
Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.
Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,
Việc tu bá tánh bắn lùi như tôm.
Tưởng Phật được lúc đầu hôm,
Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.

TRANG 9

Thế-gian nhiều việc nực cười,
Tu hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.
Người già ham muốn gái xinh,
Đến sau chẳng biết thân mình ra sao ?
Xác thân cọp xé beo quào,
Còn người tàn bạo máu đào tuôn rơi.
Tu hành hiền đức thảnh thơi,
Ngay cha thảo Chúa Phật, Trời cứu cho.
Bá gia hãy rán mà lo,
Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền cơ.
Bấy lâu chẳng biết làm thơ,
Nay viết ít tờ trần hạ tỉnh tâm.
Đến sau khổ hạnh khỏi lâm,
Nhờ công tu niệm âm thầm quá hay.
Chừng nào chim nọ biếng bay,
Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.
Nhắc ra quá thảm quá phiền,
Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.
Ngọn đèn chơn lý hết lu,
Khắp trong lê thứ ao tù từ đây.
Thấy trong thời cuộc đổi xây,
Đời nay trở lại khác nào đời Thương.
Nhắc ra thêm ghét Trụ Vương,
Ham mê Đắc Kỷ là phường bội cha.
Hết gần Điên lại nói xa,
Nói cho bá tánh biết mà người chi.
Lời lành khuyên hãy gắn ghi,
Dương-trần phải rán tu trì sớm khuya.
Đừng ham làm chức nắc nia,
Ngày sau như khóa không chìa dân ôi !
Tu hành như thể thả trôi,
Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
Mưu sâu thì họa cũng thâm,
Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
Hùm beo tây tượng bộn bề,
Lại thêm ác thú mãng xà, rít to.

TRANG 10

Bá gia ai biết thì lo,
Gác tai gièm xiểm đôi co ích gì !
Hết đây rồi đến dị kỳ,
Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha.
Dân nay như thể không cha,
Chẳng ai dạy dỗ thiệt là thảm thương.
Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,
Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ ê.
Cám thương trần hạ nhiều bề,
Bởi chưng tàn bạo khó kề Phật Tiên.
Chúng ham danh lợi điền viên,
Ngày sau đến việc lụy phiền suốt canh.
Kệ kinh tụng niệm đêm thanh,
Ấy là châu ngọc để dành ngày sau.
Bây giờ chưa biết vàng thau,
Đời sau kính trọng người cao tu hành.
Nam mô miệng niệm lòng lành,
Bá gia phải rán biết rành đường tu.
Thương ai ham võng ham dù,
Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.
Khuyên đời như vá múc thêm,
Mảng lo tranh đoạt thù hềm với nhau.
Đến chừng có ốm có đau,
Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.
Dương trần tiếng nhỏ tiếng to,
Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.
Tưởng rằng thân nó là vinh,
Chẳng lo tu niệm cứ ghình với Điên.
Nói ra trong dạ chẳng yên,
Bây giờ nói chuyện cởi thuyền khuyên dân.
Đêm ngày chẳng nại tấm thân,
Nắng mưa chẳng quản tảo tần ai hay.
Chừng nào đến hội Rồng Mây,
Người đời mới biết Điên nầy là ai.
Lui thuyền chèo quế tay gay,
Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.

TRANG 11

Xa xa chẳng biết làng nào,
Thiệt làng Long Khánh ít người nào tu.
Tớ Thầy liền giả đui mù,
Bèn đi ca hát kiếm xu dương trần.
Bá gia tựu lại rần rần,
Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.
Nực cười trần hạ một khi,
Ở một đêm thì sáng lại qua sông.
Bình minh vừa buổi chợ đông,
Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.
Cho thiên hạ tựu đông vầy,
Rồi mới ra bài hát việc Thiên cơ.
Tới đây bá tánh làm ngơ,
Buồn cho lê thứ kịp giờ ra đi.
Lìa xa Hồng Ngự một khi,
Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân Thành.
Tới đây ra mặt người rành,
Nói chuyện thiệt sành thông lảu Đạo nho.
Nhiều người xúm lại đôi co,
Chê lão đưa đò mà biết việc chi.
Thấy đời động tánh từ bi,
Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa.
Khoan khoan chơn nọ bước ra,
Giáp rạch Cả Cái rồi ra ngoài vàm.
Đoái nhìn mây nọ trắng lam,
Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.
Xa nhìn sương bạc mờ mờ,
Tân An làng nọ dân nhờ bắp khoai.
Giả người bán cá bằng nay,
Dân chúng ngày rày xúm lại mua đông.
Tới lui giá cả vừa xong,
Điên cũng bằng lòng cân đủ cho dân.
Có người chẳng chịu ngang cân,
Bỏ thêm chẳng bớt mấy lần không thôi.
Nực cười trần hạ lắm ôi !
Giảng cho bá tánh một hồi quá lâu.

TRANG 12

Thân già thức suốt canh thâu,
Nói cho lê thứ quày đầu mới thôi.
Nhiều người nghe hết phủi rồi,
Quày thuyền trở lại bồi hồi sầu bi.
Giả người tàn tật một khi,
Xuống vàm kinh Xáng được thì chút vui.
Một người nhà lá hẩm hui,
Mà biết đạo lý mời Cùi lên chơi.
Bàn qua kim cổ một hồi,
Cùi xuống giữa vời Châu Đốc thẳng xông.
Đến nơi thiên hạ còn đông,
Giả gái không chồng đi bán cau tươi.
Thấy dân ở chợ nực cười,
Xúm nhau trêu ghẹo đặng cười Gái Tơ.
Buồn đời lăng mạ ngẩn ngơ,
Biến mất lên bờ liền giả cùi đui.
Phố phường nhiều kẻ tới lui,
Thấy kẻ Đui Cùi chẳng muốn ngó ngang.
Đời nay quý trọng người sang,
Giả ra gây lộn nói toàn tiếng Tây.
Tây, Nam, Chà, Chệt, chú, thầy,
Nó thấy làm vầy chẳng bắt ngại nghi.
Xuống thuyền quày quả một khi,
Chèo lên Vĩnh Tế vô thì núi Sam.
Đi ngang chẳng ghé chùa am,
Xuôi dòng núi Sập đặng làm người ngu.
Xem qua đầu tóc u xù,
Cũng như người tội ở tù mới ra.
Chèo ghe rao việc gần xa,
Bồng Lai Tiên cảnh ai mà đi không ?
Nhiều người tâm đạo ước mong,
Nếu tôi gặp được như rồng lên mây.
Ấy là tại lịnh Phương Tây,
Cho kẻ bạo tàn kiến thấy Thần Tiên.
Có người nói xéo nói xiên,
Chú muốn kiếm tiền nói gạt bá gia.

TRANG 13

Thoáng nghe lời nói thiết tha,
Rưng rưng nước mắt chèo về Mặc Dưng.
Tay chèo miệng cũng rao chừng,
Đường đi Tiên cảnh ai từng biết chưa ?
Khúc thời nhắc lại đời xưa,
Lúc chàng Lý Phủ đổ thừa Trọng Ngư.
Nhà anh có của tiền dư,
Sao chẳng hiền từ thương xót bá gia ?
Bấy giờ gặp việc thiết tha,
Bạc vàng có cứu anh mà hay không ?
Hết tây Điên lại nói đông,
Có ai thức tỉnh để lòng làm chi !
Mặc Dưng mất dạng Từ Bi,
Thuyền đi trở ngược về thì Vàm Nao.
Dòm xem thiên hạ lao xao,
Không ghé nhà nào cũng gọi vài câu.
Con sông nước chảy vòng cầu,
Ngày sau có việc thảm sầu thiết tha.
Chừng ấy nổi dậy phong ba,
Có con nghiệt thú nuốt mà người hung.
Đến chừng thú ấy phục tùng,
Bá gia mới biết người Khùng là ai.
Bây giờ phải chịu tiếng tai,
Giảng Đạo tối ngày mà chẳng ai nghe.
Đời như màn nọ bằng the,
Hãy rán đọc vè của kẻ Khùng Điên.
Khỏi vàm Điên mới quày thuyền,
Xuống miền Cao Lãnh lại phiền lòng thêm.
Tới đây ca hát ban đêm,
Ai có thù hềm chửi mắng cũng cam.
Cho tiền cho bạc chẳng ham,
Quyết lòng dạy dỗ dương trần mà thôi.
Nghe rồi thì cũng phủi rồi,
Nào ai có biết đây là người chi.
Trở về Phong Mỹ một khi,
Thuyền đi một mạch tới thì Rạch Chanh.

TRANG 14

Ghe chèo khúc quẹo khúc quanh,
Ở đây có một người lành mà thôi.
Nhắc ra tâm trí bồi hồi,
Khó đứng khôn ngồi thương xót bá gia.
Kiến Vàng làng nọ chẳng xa,
Kíp mau tới đó vậy mà thử coi.
Xứ nầy nhà cửa ít oi,
Mà trong dân sự nhiều người chơn tu.
Thấy người đói rách xin xu,
Ra tay cứu vớt đui mù chẳng chê.
Khỏi đây đến chổ bộn bề,
Rõ ràng Bến Lức đã kề bên ghe.
Giả Người Tàn Tật đón xe,
Rồi lại nói vè ròng việc Thiên cơ.
Hết vè rồi lại nói thơ,
Làm cho bá tánh ngẩn ngơ trong lòng.
Thơ vè Điên đã nói xong,
Đi luôn Ba Cụm kẻo lòng ước mơ.
Tới đây dẹp hết vè thơ,
Giả Người bán mắm quá khờ quá quê.
Chợ nầy thiên hạ bộn bề,
Kẻ nhún người trề chê mắm chẳng ngon.
Bạn hàng tiếng nói quá dòn :
Giá nầy chẳng bán còn chờ chuyện chi ?
Bưng thời kẻ níu người trì :
Ở đây không bán chị thì đi đâu ?
Dứt lời rồi lại câu mâu,
Mắng : con đĩ chó khéo hầu làm khôn !
Muốn làm cho có người đồn,
Biến mất xác hồn cho chúng chỉn ghê.
Nói ra thêm thảm thêm thê,
Ông Lãnh dựa kề giả bán trầu cau.
Bạn hàng xúm lại lao xao :
Ông bán giá nào nói thử nghe coi ?
Trầu thời kẻ móc người moi,
Còn cau bẻ giấu thấy lòi tánh tham.
Thấy già bán rẻ nó ham,
Bị thêm quê dốt nó làm thẳng tay.
Ghe người biến mất bằng nay.
Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.
Bến Thành đến đó đậu liền,
Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân.
Tớ Thầy nói chuyện cân phân :
Mới lỡ một lần xin cậu thứ tha.
Hai người tôi ở phương xa,
Bởi chưng khổ não mới là nổi trôi.
Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,
Khoát nạt mới bắt giam.
Thấy đời trong dạ hết ham,
Ghe người biến mất coi làm chi đây.
Tức thời Điên giả làm thầy,
Đi coi đi bói khắp trong phố phường.
Có người tu niệm đáng thương,
Điên mới chỉ đường Tịnh Độ vãng sanh.
Dạo cùng khắp cả Sài Thành,
Khi ca khi lý nói rành Thiên cơ.
Bá gia bá tánh làm ngơ,
Tưởng như những kẻ làm thơ kiếm tiền.
Văn minh trọng bạc trọng tiền,
Khôn ngoan độc ác làm phiền người xưa.
Mặc ai ghét ghét ưa ưa,
Chẳng dám nói bừa cho bá tánh nghe.
Phiền ba ngựa ngựa xe xe,
Điên giả người què Gia Định thẳng xông.
Què nầy đường xá lảu thông,
Khắp trong thiềng thị rồi thì nhà quê.
Kêu cơm bá tánh nghe ghê,
Thêm nói bộn bề những việc về sau.
Dương trần bàn tán thấp cao,
Chẳng biết người nào rõ việc tiên tri.
Giã từ Gia Định một khi,
Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần Thơ.

TRANG 15

Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,
Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.
Phố phường xóm dưới đầu trên,
Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.
Thị thiềng hiền đức được mười,
Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.
Vợ thời ca hát huyên thiên,
Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.
Bá gia coi thể rác rơm,
Ai cũng sẳn hờm đặng có ghẹo chơi.
Điên mà ca hát việc đời,
Với việc hiện thời khổ nảo A?Châu.
Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,
Lòng quá thảm sầu lìa lại Vĩnh-Long.
Chợ quê giảng dạy đã xong,
Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến Tre.
Chợ nầy đậu tại nhà bè,
Giả chị bán chè dạo khắp các nơi.
Giọng rao rặt tiếng kim thời,
Rước rước mời mời anh chị mua ăn.
Trẻ già qua lại lăng xăng,
Nói nói rằng rằng những việc bướm ong.
Gánh chè bán hết vừa xong,
Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.
Nói rồi chơn bước mau mau,
Lìa xa thiềng thị đến thì thôn quê.
Đi đâu cũng bị nhún trề,
Kẻ lại chưởi thề nói : lũ bá-vơ.
Thấy đời tai lấp mắt ngơ,
Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.
Dạo cùng khắp tỉnh Bến Tre,
Đủ bực thơ vè lìa lại TràVinh.
Tới đây bày đặt hát kình,
Đua nhau bán thuốc mặc tình nghe không.
Nói ra những chuyện bông lông,
Trách trong lê thứ không lòng từ bi.

TRANG 16

Gặp người đói khó khinh khi,
Điền-viên sự sản ai thì làm cho.
Dạy rồi thuyền lại Mỹ Tho,
Khuyên trong trần hạ rán lo tu trì.
Xưa nay không có mấy khi,
Dương trần có Phật vậy thì xuống đây.
Chợ quê giáp hết thuyền quay,
Đi trở lộn về O? Chưởng giảng dân.
Quản chi nắng Sở mưa Tần,
Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.
Thảm thương bá tánh lắm ôi !
Bồng Lai Tiên cảnh rao rồi một khi.
Nếu ai rảnh việc thì đi,
Còn mắc nợ thì ở lại dương gian.
Có người xưng hiệu ông Quan,
Tên thiệt Vân Trường ở dưới dinh Ông.
Thấy đời cũng bắt động lòng,
Ghé vào tệ xá thẳng xông lên nhà.
Mình người tu niệm vậy mà,
Nói chi lớn tiếng người mà khinh khi.
Người nhà cảm tạ một khi,
Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.
Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,
Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba.
Ngồi chơi đạo lý bàn qua,
Mấy bà có biết lúa mà bay không ?
Có người đạolý hơi thông,
Xin ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.
Điên nghe liền mới tỏ bày :
Lúa bay về núi dành rày ngày sau.
Hỏi qua tu niệm âm hao,
Không biết câu nào trái ý Đạo Ba.
Buồn đời Điên mới bước ra,
Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.
Đi hoài chẳng có nghỉ ngơi,
Miệng cũng rao mời Tiên cảnh Bồng Lai.

TRANG 17

Có người xuống bến bằng nay,
Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.
Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng :
Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi ?
Thương đời ta luống sầu bi,
Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu ?
Điên rằng tôi chẳng ham nhiều,
Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.
Điên nầy bụng chẳng có tham,
Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.
Già đây cũng chở cầu vui,
Vậy chú hãy ngồi ngay chổ sau đây.
Thấy người lòng dạ tà tây :
Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô ?
Trong mui đã mát lại khô,
Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.
Trong mui dòm thấy trống không,
Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.
Cho người hung bạo biết ta,
Thuyền người biến mất vậy mà còn chi.
Trở lên Chợ Mới một khi,
Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.
Năm xưa đây có máu đào,
Mà nay chưa có người nào chơn tu.
Nào Điên có muốn kiếm xu,
Mà trong trần hạ đui mù không hay.
Hỏi ông người ở đâu rày,
Trả lời rằng ở non cày vua Nghiêu.
Tới đây trong dạ buồn hiu,
Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi.
Giả ra một kẻ hàn nồi,
Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.
Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,
Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.
Tôi còn mắc cái nợ nầy,
Nên mới làm vầy cho giải quả căn.

TRANG 18

Nhà tôi đâu phải khó khăn,
Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi.
Nhiều người nghe nói reo cười,
Thân tôi lao lý ai cười tôi chi ?
Giã từ Chợ Mới một khi,
Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba Răng.
Ít ai biết được đạo hằng,
Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn.
Trước sau bày tỏ nguồn cơn,
Vì thương lê thứ chi sờn lòng đây.
Có người lối xóm muốn gây,
Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.
Ghe Điên vốn thiệt ghe be,
Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.
Ra oai thuyền chạy như dông,
Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.
Ông nầy chẳng biết người chi,
Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.
Thần Tiên mà chẳng ai hay,
Cứ biếm nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa.
Đời nay mỏng tợ màn thưa,
Khuyên trong lê thứ chẳng thừa một câu.
Thân nầy chẳng nệ mau lâu,
Miễn cho bá tánh gặp chầu vinh huê.
Thương trong trần hạ thảm thê,
Lao khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui.
Nhiều người nghèo khổ hẩm hui,
Không đất cắm dùi mà chẳng ai thương.
Con thuyền đang lướt gió sương,
Bỗng nghe tiếng khóc tư lương ai hoài.
Có người ở xóm bằng nay,
Bị mất trộm rày đồ đạc sạch trơn.
Du thần bày tỏ nguồn cơn :
Rằng người nghèo khó đương hờn phận duyên.
Điên nghe vội vã quày thuyền,
Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.

TRANG 19

Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,
Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.
Rồi đi dạo xóm một khi,
Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi.
Vào nhà nói chuyện một hơi,
Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô :
Mua một ve uống hỡi cô,
Uống vô bổ khỏe trị nhiều chứng phong.
Uống thì pha nước nóng trong,
Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.
Hai thằng ở xóm bằng nay,
Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.
Người cha đi lại thấy rầy :
Thiệt mấy đứa nầy cãi cọ làm chi.
Bước ra nhà nọ một khi,
Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi.
Gặp xe chẳng có lên ngồi,
Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.
Xóm nầy kẻ ghét người ưa,
Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.
Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,
Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.
Vàm Nao rày đã đến rồi,
Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình.
Hát hai câu hát huê tình,
Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao.
Sáng ngày chợ nhóm lao xao,
Giả bận áo màu ai cũng dòm xem.
Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
Đứng xa quanh quẩn nói gièm với nhau.
Đứa nầy nói để cho tao,
Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon.
Nhắc ra động tấm lòng son,
Buồn cho lê thứ sao còn ham vui.
Ở đây một buổi ghe lui,
Về trên Bảy Núi ngùi ngùi thương dân.

TRANG 20

Thầy Trò chẳng nại tấm thân,
Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.
Chơn tu thì quá ít oi,
Nhiều người ẩn sĩ quá lòi tánh tham.
Đi lần ra đến núi Sam,
Đến nơi rảo khắp chùa am của người.
Dạy rồi bắt quá tức cười,
Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.
Trẻ già biến hóa ai hay,
Dạo trong Bảy Núi chẳng nài công lao.
Rú rừng lúc thấp lúc cao,
Giả ra nghèo khó vào nhiều am vân.
Tu hành nhiều kẻ tham sân,
Làm sao cho đặng mau gần Phật Tiên.
Ai ai cũng cứ ham tiền,
Ấy là đem sợi xích xiềng trói thân.
Lìa xa Bảy Núi lần lần,
Xuống thuyền trực chỉ đến gần Hà Tiên
Đến đây giả Kẻ không tiền,
Rảo khắp thị thiềng xin xỏ bá-gia.
Đi rồi cũng quá thiết tha,
Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.
Non Tiên gió mát thảnh thơi,
Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.
Xuống trần lúc hát lúc ca,
Mà trong lê thứ có mà biết chi.
Nam-mô hai chữ từ-bi,
Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.
Tu thời nhàn hạ thân mình,
Phần Điên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.
Thiên-cơ ai dám nói thừa,
Mà trong bá-tánh chẳng ưa Điên Khùng.
Xuống thuyền chèo quế thung-dung,
Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.
Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,
Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.

TRANG 21

Tới đây giả kẻ có cơn,
Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.
Dương-trần đi lại lăng xăng,
Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.
Ở đâu mà tới thị-thiềng,
Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.
Lòng thương vì tánh từ-bi,
Dạy dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.
Dạy rồi Điên lại xuống ghe,
Long-Xuyên, Sa-Đéc nói ròng vè thơ.
Vợ chồng nghèo khổ bơ vơ.
Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.
Buồn trong lê-thứ ủ ê,
Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.
Đến đâu thì cũng tả tơi,
Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.
Thị-thiềng thiên-hạ lao-xao,
Chẳng có người nào tu-niệm hiền-lương.
Thấy trong trần-hạ thảm thương,
Đâu có biết đường chơn chánh mà đi.
Lìa xa đô-thị một khi,
Thuyền loan trực-chỉ đến thì Bạc-Liêu.
Chợ nầy tàn ác quá nhiều,
Phố-phường dân Thổ dân Tiều nhiều hơn.
Đi cùng thành-thị ráo trơn,
Cà-Mau đến đó thiệt hơn tỏ bày.
Cho trong bá-tánh chợ nầy,
Rõ việc dẫy đầy lao lý về sau.
Đường đi lao-khổ sá bao,
Miễn cho trần-hạ biết vào đường tu.
Tu hành đâu có tốn xu,
Mà sau thoát khỏi lao tù thế-gian.
Thầy Trò lắm cảnh gian-nan,
Chừng nào hết khổ mới an tấm lòng.
Đằng-vân đến tỉnh Gò-Công,
Vì thương dân-thứ mới hòng đến đây.

TRANG 22

Xưa kia bão lụt tỉnh nầy,
Mà sau cảnh khổ xứ nầy gần hơn.
Yêu dân lòng nọ chẳng sờn,
Thầy hát Tớ đờn dạy cũng khắp nơi.
Khỏi đây Bà-Rịa tách vời,
Đến đó vậy thời trời mới sáng ra.
Chợ nầy đông đúc người ta,
Nhiều đuông chà-là lại với nho tươi.
Đến đây Thầy Tớ hóa mười,
Nói nói cười cười bán thuốc Sơn Đông.
Ai ai đều cũng ngóng trông,
Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao.
Hát mà trong bụng xáo xào,
Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi.
Cả kêu dân chúng hỡi ôi,
Sao không thức tỉnh việc đời gần bên.
Khổ đà đi đến như tên,
Rán lo tu niệm tìm nền vinh-hoa.
Vinh nầy của Đức Phật Bà,
Của Ông Phật Tổ ban mà cho dân.
Tu cho nhàn toại tấm thân,
Đừng làm tàn ác xa lần Tiên bang.
Hát kêu bớ kẻ giàu sang,
Rán lo làm phước làm doan mới là.
Đến lâm cảnh khổ có Ta,
Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.
Tu hành phải rán trì mò,
Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh-khi.
Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,
Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.
Đến đây dạy-dỗ gần xa,
Khuyên trong bá-tánh vậy mà tỉnh tâm.
Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm.
Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.
Tân-An dạy-dỗ kịp giờ,
Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây-Ninh.

TRANG 23

Tới đây vừa lúc bình-minh,
Điên ra sức giảng mặc tình nghe không.
Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,
Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.
Thương dân giảng dạy dẫy đầy,
Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn.
Nhiều người hung-ác quá chừng,
Không biết đời khổ lo mừng lo vui.
Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,
Từ đây Lục-tỉnh đui cùi thiếu chi.
Nói mà trong dạ sầu-bi,
Bá-gia chậm chậm khinh khi Điên nầy.
Đừng ham nói nọ nói nầy,
Lặng yên coi thử Điên nầy là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.
Câu này nhắc chuyện năm xưa,
Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.
Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Điên chẳng có chùa am dưới nầy.
Vua Nghiêu xưa mở đất cày,
Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên.
Xuống trần day-dỗ huyên-thiên,
Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.
Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,
Lời Điên khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Thị-thiềng khắp hết gần xa,
Từ đây sắp đến quê nhà Điên đi.
Đừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ-Lựu, Tớ thì Huệ-Tâm.
Đời cùng còn chẳng mấy năm,
Khắp trong các nước thây nằm bằng non.
Cha thì chẳng thấy mặt con,
Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.
Khuyên trong lê-thứ trẻ già,
Tu hành hiền đức Phật mà cứu cho.

TRANG 24

Ấy là quý báu thơm tho,
Đừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.
Con thì ăn ở nhu mì,
Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.
Sau nầy sấu bắt hùm tha,
Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.
Đời xưa quả-báo thì chầy,
Đời nay quả-báo một giây nhãn tiền.
Dương-trần phải rán làm hiền,
Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.
Người hung phải sửa cái thân,
Từ đây có kẻ Du-Thần xét soi.
Chuyện người chớ móc chớ moi,
Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.
Ai thương ai ghét mặc tình,
Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.
Điên đây vưng lịnh Phương Tây,
Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.
Thấy đời lòng dạ tây-tà,
Cứ theo chế nhạo cười mà người Điên.
Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,
Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ.
Viết cho bá-tánh ít tờ,
Đi làm ruộng rẫy bỏ hờ theo xem.
Thương người nghèo khổ lấm-lem,
Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.
Ai mà biết đặng ngày mai,
Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.
Từ rày gặp cảnh buồn rầu,
Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.
Dương-trần nay đáng sầu-bi,
Nên Điên mới nói chuyện ni tỏ tường.
Đêm ngày tưởng Phật cho thường,
Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.
Thương đời Điên mới tỏ bày,
Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.

TRANG 25

Đừng khi nhà lá chòi tre,
Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.
Lúc nầy Điên mắc lăng-xăng,
Dương-trần biết đặng đạo-hằng mới thôi.
Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
Muốn cho dân hiểu Đạo-mầu,
Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.
Sáng ngày con chó sủa tru,
Chừng heo cắn ổ hiềm-thù mới yên.
Đừng ham giành-giựt của tiền,
Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.
Nay Điên chỉ rõ đường tu,
Ấy là đủ việc tài bù cho dân.
Thôi thôi nói riết dần lân,
Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.

NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT
 

BỬU châu công luyện chốn non Tần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

-- Hết Sấm Giảng quyển I

Quyển 2
TRANG 1

Ngồi khùng trí đoái nhìn cuộc thế,
Thấy dân mang sưu thuế mà thương.
Chẳng qua là Nam Việt vô vương,
Nên tai ách xảy ra thảm thiết.
Bạc không cánh đổi thay chẳng biết,
Vàng vị nghèo mấy chiếc chẳng còn.
Mới mấy năm sao quá hao-mòn,
Mùa màng thất, đói đau không thuốc.
Thương hại bấy lê dân đứt ruột,
Thảm vợ con đói rách đùm đeo.
Gẫm chữ nghèo thường mắc chữ eo,
Thêm gạo lúa lại tăng giá mắc.
Nhìn cuộc thế đổi thay quá gắt,
Máy Thiên cơ mỗi phút mỗi thay.
Nẻo thạnh suy như thể tên bay,
Đường vinh nhục rủi may một lát.
Ai phú quí vào đài ra các,
Ta Điên Khùng thương hết thế trần.
Khuyên chúng sanh chẳng biết mấy lần,
Nào ai có tỉnh tâm tìm Đạo.
Trai trung liệt đáng trai hiền thảo,
Gái tiết trinh mới gái Nam trào.
Lời Thánh Hiền để lại biết bao,
Sao trai gái chẳng coi mà sửa ?
Đời tận thế mà còn lần lựa,
Chẳng chịu mau cải dữ về lành.
Làm Phật Nhi phải được lòng thành,
Thì mới đặng vãng-sanh Cực Lạc.
Tương với muối cháo rau đạm bạc,
Nghèo lương hiền biết niệm Di-Đà.
Mà mai sau thoát khỏi tinh ma,
Lại được thấy cảnh Tiên nhàn hạ.
Trên Bảy Núi còn nhiều báu lạ,
Rán tu tâm dưỡng tánh coi đời.
Coi là coi được Phật được Trời,
Coi phép lạ của Tiên của Thánh.
Cuộc dương thế ngày nay mỏng mảnh,
Mà sang giàu còn hiếp nghèo nàn.
Phải xả thân tầm Bát Nhã thoàn,
Sau mới khỏi hùm tha sấu bắt.
Đến chừng đó bốn phương có giặc,
Khắp hoàn cầu thiết thiết tha tha.
Vậy sớm mau kiếm chữ Ma Ha,
Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.
Tưởng nhớ Phật như ăn cơm bữa,
Vọng Cửu Huyền sớm tối mới mầu.
Chữ Nam Mô dẹp bớt lòng sầu,
Sau được thấy nhà Tiên cửa Thánh.
Ghét những đứa giàu sang kiêu hãnh,
Thương những người đói rách cơ hàn.
 

        TRANG 2


 Cảnh phồn hoa khó sánh lâm san,
Sau sẽ có nhiều điều vinh hạnh.
Cõi trần thế hết suy tới thạnh,
Hết lâm nguy đến lúc khải hoàn.
Tuy tu hành chịu chữ nghèo nàn,
Sau đắc đạo gặp điều cao quí.
Mặc bá tánh đời nầy dị nghị,
Ta Điên Khùng mà tánh lương hiền.
Lòng yêu dân chẳng trọng bạc tiền,
Mà dương thế cứ theo biếm nhẻ.
Sau lập Hội thì già hóa trẻ,
Khắp hoàn cầu đổi xác thay hồn,
Đức Ngọc Hoàng mở cửa thiên môn,
Đặng ban thưởng Phật Tiên với Thánh.
Khuyên trai gái học theo Khổng Mạnh,
Sách Thánh Hiền dạy Đạo làm người.
Xem truyện thơ chẳng biết hổ ngươi,
Mà làm thói Điêu Thuyền, Lữ bố.
Sau kẻ ấy làm mồi mãnh hổ,
Cảnh núi non nhiều thú dị kỳ.
Nó trọng ai hiền đức nhu mì,
Sát phạt kẻ bội cha phản chúa.
Đến chừng ấy thiên la lưới bủa,
Mới biết rằng Trời Phật công bằng.
Nếu dương trần sớm biết ăn năn,
Làm hiền đức khỏi đường lao lý.
Học tả đạo làm điều tà mị,
Theo dị đoan cúng kiến tinh tà.
Thì sau nầy gặp chuyện thiết tha,
Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu.
Thấy bá tánh nghinh tân yểm cựu,
Học ai mà ngang ngược nhiều lời.
Phụ mẹ cha khinh dể Phật Trời,
Chẳng có kể công sanh dưỡng dục.
Thương lê thứ bày tường trong đục,
Mặc ý ai nghe phải thì làm.
Lời của người di tịch Núi Sam,
Chớ chẳng phải bày điều huyễn hoặc.
Cảnh Thiên Trước thơm tho nồng nặc,
Chẳng ở yên còn xuống phàm trần.
Ấy vì thương trăm họ vạn dân,
Nên chẳng kể tấm thân lao khổ.
Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ,
Giả bán buôn thức giấc người đời.
Rằng ngày nay có Phật có Trời,
Kẻo lê thứ nhiều người kiêu ngạo.
Xuống mượn xác nhằm năm Kỷ Mão,
Buồn xóm làng cứ ghét Điên Khùng.
Nếu trẻ già ai biết thì dùng,
Chẳng có ép có nài bá tánh.
 

        TRANG 3


 Nghe Điên dạy sau nầy thơi thảnh,
Đây chỉ đường Cực Lạc vãng sanh.
Đừng có ham lên mặt hùng anh,
Sa địa ngục uổng thân uổng kiếp.
Theo đạo lý nhứt tâm mới kịp,
Ngày nay đà gặp dịp tu hành.
Niệm Di-Đà rán niệm cho rành,
Thì mới được sống coi Tiên Thánh.
Đức Minh Chúa chẳng ai dám sánh,
Xưa mạt Thương phụng gáy non Kỳ.
Bởi Võ Vương đáng bực tu mi,
Nay trở lại khác nào đời trước.
Kẻ gian ác bị gươm ba thước,
Nơi pháp tràng trị kẻ hung đồ.
Được thảnh thơi nhờ chữ Nam-Mô,
Khuyên bổn đạo rán mà trì chí.
Xưa Tây Bá thất niên Dũ lý,
Huống chi ta sao khỏi tiếng đời.
Dòm biển trần cảnh khổ vơi vơi,
Lao với khổ, khổ lao chẳng xiết.
Ghét bạo chúa là xưa Trụ Kiệt,
Mất cơ đồ lại bị lửa thiêu.
Thương Minh Vương bắt chước Thuấn, Nghiêu,
Lòng hiền đức nào ai có biết.
Thương trần thế kể sao cho xiết,
Mượn xác trần bút tả ít hàng.
Kể rõ ràng những việc lầm than,
Mặc làng xóm muốn nghe thì chép.
Việc tu tỉnh Khùng không có ép,
Cho giấy vàng Điên chẳng có nài.
Lòng yêu dân chẳng nệ vắn dài,
Cho bổn đạo giải khuây niệm Phật.
Việc xảy đến Đây truyền sự thật,
Ấy là lời của Phật giáo khuyên.
Rán nghe lời của kẻ Khùng Điên,
Phật, Tiên, Thánh hãy nên trọng kỉnh.
Bịnh ôn dịch cũng đừng mời thỉnh,
Cõi ngũ hành chẳng khá réo kêu.
Hãy gìn lòng chớ khá dệt thêu,
Nói xiên xỏ cũng không no béo.
Đời Nguơn-Hạ ngày nay mỏng mẻo,
Khuyên thế trần hãy rán kiêng dè.
Mặc tình ai lên ngựa xuống xe,
Ta chẳng có ham nơi phú quí.
Trong bổn đạo từ nay kim chỉ,
Đói với nghèo sắp đến bây giờ.
Vì thương đời nên Lão kể sơ,
Cho bá tánh rõ lời châu ngọc.
Nước Nam Việt ai là thằng ngốc,
Người đời nay như ốc mượn hồn.
 

        TRANG 4


 Chim tìm cây mới gọi chim khôn,
Người hiền đức mới là người trí.
Theo Phật Giáo sau nầy cao qúi,
Được nhìn xem Ngọc Đế xử phân.
Lại dựa kề Bệ Ngọc Các Lân,
Cảnh phú quí nhờ ơn Phật Tổ.
Thấy bá tánh nhiều điều tai khổ,
Khùng thương dân nên phải hết lời .
Dạo Lục Châu chẳng có nghỉ ngơi,
Mà lê thứ nào đâu có biết .
Dạy Đạo Chánh vì thương Nam Việt ,
Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng .
Trở về Nam đặng có sửa sang ,
Cho thiện tín được rành chơn lý .
Trong sáu tỉnh nhiều điều tà mị ,
Tu hành mà vị kỷ quá chừng .
Thì làm sao thoát khỏi trầm luân ,
Khuyên bổn đạo rán tầm nẻo chánh .
Chừng lập Hội xác thân mới rảnh,
Nếu không thơì khó thấy Phật Trời.
Khùng dạy dân chẳng dám nghỉ ngơi ,
Đi chẳng kể tấm thân già cả.
Cảnh trần thế mặc ai thong thả,
Chớ lòng ta chẳng đắm hồng trần .
Có thân thì rán giữ lấy thân ,
Để đến việc ăn năn chẳng kịp.
Yêu những kẻ tâm đầu ý hiệp,
Mến những ai biết kiếm Đạo mầu .
Cảnh Tây Thiên báu ngọc đầy lầu ,
Rán tu tỉnh tìm nơi an dưỡng.
Kẻ hiền đức sau này được hưởng ,
Phép thần linh của Đức Di Đà .
Lại được thêm thóat khỏi Ta Bà,
Khỏi luân chuyển trong vòng Lục Đạo.
Đức Diêm chúa yêu người hiền thảo,
Trọng những ai biết niệm Di Đà.
Lại được gần Bệ Ngọc Long Xa,
Coi chư quốc tranh giành châu báu.
Trai nhỏ tuổi kính thành trưởng lảo,
Gái bé thơ biết trọng tuổi già.
Rán tỉnh tâm dẹp được lòng tà,
Thì được thấy Phật ,Tiên ,Thần ,Thánh.
Việc hung dữ hãy nên xa lánh,
Theo gương hiền trau sửa lòng người.
Sau tà tinh ăn sống nuốt tươi,
Mà bá tánh chẳng lo cải thiện .
Miệng dương thế hay bày nói huyễn,
Sách Thánh Hiền ghét kẻ nhiều lời.
Khuyên chúng sanh niệm Phật coi đời,
Cõi Hạ giới rồng mây chơi giỡn.
 

        TRANG 5


 Ở chòm xóm đừng cho nhơ bợn,
Rán giữ gìn phong hóa nước nhà.
Câu tam tùng bọn gái nước ta,
Chữ hiếu nghĩa kẻ trai cho vẹn .
Ghét những kẻ có ăn bỏn sẻn,
Thương những người đói rách lương hiền .
Muốn tu hành thì phải cần chuyên,
Tưởng nhớ Phật chớ nên sái buổi.
Kẻ phú quí đừng vong cơm nguội,
Sau đói lòng chẳng có mà dùng.
Ta yêu đời than thở chẳng cùng,
Mà bá tánh chẳng theo học hỏi.
A Di Đà nhìn xem khắp cõi,
Đặng trông chờ mong mỏi chúng sanh .
Hiện hào quang ngũ sắc hiền lành,
Đặng tìm kiếm những người hiền đức.
Kẻ tâm trí mau mau tỉnh thức ,
Kiếm Đạo mầu đặng có hưởng nhờ.
Chốn hồng trần nhiều cảnh nhuốc nhơ,
Rán hiểu rỏ huyền cơ mà tránh .
Chốn tửu điếm ta nên xa lánh,
Tứ đổ tường đừng có nhiễm vào.
Người tránh xa mới gọi trí cao,
Sa bốn vách mang điều nhơ nhuốc.
Muốn tu tỉnh nay đà gặp cuộc,
Đức Di Đà truyền mở đạo lành.
Bởi vì Ngài thương xót chúng sanh,
Ra sắc lệnh bảo Ta truyền dạy.
Nên lao khổ Khùng không có nại,
Miễn cho đời hiễu đặng Đạo mầu.
Ai muốn tầm Đạo cả cao sâu,
Thì hãy dẹp tánh tình ích kỷ.
Mau trở lại đừng theo tà quỉ ,
Tham, Sân ,Si chớ để trong lòng .
Phải giữ lòng cho được sạch trong,
Mới thóat khỏi trong vòng bịnh khổ.
Lớp đau chết kể thôi vô số,
Thêm tà ma yêu quái chật đường.
Chốn hồng trần nhiều nổi thảm thương,
Làm sao cứu những người hung ác.
Khắp thế giới cửa nhà tan nát,
Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu.
Bấy lâu nay nuôi dưỡng chắt chiu,
Nay tận diệt lập đời trở lại.
Khắp lê thứ biến vi thương hải,
Dùng phép mầu lập lại Thượng Ngươn.
Việc Thiên Cơ Khùng tỏ hết trơn,
Cho trần hạ tường nơi lao lý.
Lão nào có bày điều ma mị,
Mà gạt lường bổn đạo chúng sanh.
 

        TRANG 6


 Đức Minh Vương ngự chốn Nam thành,
Đặng phân xử những người bội nghĩa.
Trung với hiếu ta nên trau trỉa,
Hiền với lương bổn đạo rèn lòng.
Thường nguyện cầu siêu độ Tổ Tông,
Với bá tánh vạn dân vô sự.
Đời Ngươn Hạ nhiều người hung dữ,
Nên xảy ra lắm sự tay ương.
Đức Di Đà xem thấy xót thương,
Sai chư Phật xuống miền dương thế.
Tu kíp kíp nếu không quá trễ,
Chừng đối đầu khó kiếm Điên Khùng.
Cứu lương hiền chẳng cứu người hung,
Kẻ gian ác đến sau tiêu diệt.
Nay trở lại như đời Trụ Kiệt,
Hãy tu nhơn chớ có tranh giành.
Tuy nghèo hèn mà trí cao thanh,
Được hồi phục nhờ ơn chư Phật.
Hãy thương xót những người tàn tật,
Thấy nghèo hèn chớ khá khinh cười.
Trên Năm Non rồng phụng tốt tươi,
Miền bảy núi mà sau báu quí.
Mặc trai gái trẻ già có nghĩ ,
Thì khoan cười tôi rất cám ơn.
Khùng ra đời truyền dạy thiệt hơn,
Chư bổn đạo chớ nên khinh rẻ.
Nay Khùng đã hết già hóa trẻ,
Nên giữa đồng bỗng lại có sông.
Ở Phương Tây chư Phật ngóng trông,
Chờ bá tánh rủ nhau niệm phật.
Làm nhơn ái ắt tiêu bịnh tật,
Vậy hãy mau tầm Đạo Thích Ca.
Phật tại tâm chớ có đâu xa,
Mà tìm kiếm ở trên Non Núi.
Chúng đục đẽo những cây với củi,
Đắp xi măng sơn phết đặt tên.
Ngục A Tỳ dựa kế một bên,
Chờ những kẻ tu hành giả dối.
Khuyên sư vãi mau mau cải hối,
Làm vô vi chánh đạo mới mầu.
Đạo Thích Ca nhiều nẻo cao sâu,
Hãy tìm kiếm cái không mới có.
Ngôi Tam Bảo hãy thờ Trần Đỏ,
Tạo làm chi những cốt với hình.
Khùng nói cho già trẻ làm tin ,
Theo Lục Tổ chớ theo Thần Tú.
Khuyên bổn đạo chớ nên mê ngủ,
Thức dậy tìm Đạo chánh của Khùng.
Đặng sau xem liệt quốc tranh hùng,
Được sanh sống nhờ ơn Chín Bệ.
 

        TRANG 7


 Hóa phép lạ biết sao mà kể,
Chín từng mây nhạc trỗi tiêu thiều.
Kẻ tà gian sau bị lửa thiêu,
Người tu niệm sống đời thượng cổ.
Khùng vâng lệnh Tây Phương Phật Tổ,
Nên giáo truyền khắp cả Nam Kỳ.
Hội Long Hoa chọn kẻ tu mi,
Người hiền đức đặng phò chơn Chúa.
Khuyên những kẻ giàu sang có của,
Hãy mở lòng thương xót dân nghèo.
Cảnh vinh hoa lại quá cheo leo,
Nhà giàu có sau nhiều tai ách.
Hởi bá tánh rừng sâu có mạch,
Tuy u minh mà có đền vàng.
Lệnh Quan Âm dạy biểu Khùng troàn,
Cho bổn đạo rõ nguồn chơn lý.
Lũ thầy đám hay bày trò khỉ,
Mượn kinh luân tụng mướn lấy tiền.
Chốn Diêm Đình ghi tội liên miên,
Mà tăng chúng nào đâu có rõ.
Theo Thần Tú tạo nhiều chuông mõ,
Từ xưa nay có mấy ai thành ?
Phật từ bi độ tử độ sanh,
Là độ kẻ hiền lương nhơn ái.
Xá với phướn là trò kỳ quái,
Làm trai đàn che miệng thế gian.
Kẻ vinh hoa phú quí giàu sang,
Mướn tăng chúng đặng làm chữ hiếu.
Thương bá tánh vì không rõ hiểu,
Tưởng vậy là nhơn nghĩa vẹn tròn.
Thấy lạc lầm đây động lòng son,
Khuyên bổn đạo hãy nên tỉnh ngộ.
Ở dương thế tạo nhiều cảnh khổ,
Xuống huỳnh tuyền Địa Ngục khảo hình.
Tuy lưới trời thưa rộng thinh thinh,
Chớ chẳng lọt những người hung ác.
Khi nhắm mắt hồn lìa khỏi xác,
Quỉ Vô Thường dắt xuống Diêm Đình.
Sổ sách kia tội phước đinh ninh,
Phạt với thưởng hai đường tỏ rõ.
Tìm Cực Lạc, Đây rành đường ngỏ,
Hãy mau mau tu tỉnh mới mầu.
Tận thế gian còn có bao lâu,
Mà chẳng chịu làm tròn nhơn đạo.
Kẻ nghèo khó hụt tiền thiếu gạo,
Mở lòng nhơn tiếp rước mới là.
Làm hiền lương hơn tụng hơ hà,
Hãy tưởng Phật hay hơn ó ré.
Đã chánh đạo thêm còn sức khỏe,
Đặng nuôi cha dưỡng mẹ cho tròn.
 

        TRANG 8


 Vẹn mười ơn mới đạo làm con,
Lúc sanh sống chớ nên phụ bạc.
Nếu làm đám được về Cực Lạc,
Thì giàu sang được trọn hai bề.
Ỷ tước quyền làm ác ê hề,
Khi bỏ xác nhiều tiền lo lót.
Kinh với sám tụng nghe thảnh thót,
Lũ nhưn bông tập luyện đã rành.
Đẩu với đờn, kèn, trống nhịp sanh,
Làm ăn rập đặng đòi cao giá.
Tâm trần tục còn phân nhơn ngã,
Thì làm sao thoát khỏi luân hồi.
Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,
Chớ có đốt tốn tiền vô lý.
Xưa Thần Tú bày điều tà mị,
Mà dắt dìu bá tánh đời Đường.
Thấy chúng sanh lầm lạc đáng thương,
Cõi Âm Phủ đâu ăn của hối.
Đúc Phật lớn chùa cao bối rối,
Mà làm cho Phật Giáo suy đồi.
Tu Vô Vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót.
Tăng với chúng ưa ăn đồ ngọt,
Nên bày ra cúng kiến hoài hoài,
Ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,
Cúng với lạy khó trừ cho đặng.
Kẻ nghèo khó tu hành cho thẳng,
Không cầu siêu Phật bỏ hay sao?
Lập trai đàn chạy chọt lao xao,
Bôi lem mặt bày tuồng hát Phật.
Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
Rán giữ gìn luân lý tam cang ,
Tròn đức hạnh mơí là báu quí.
Nay gần đến long phi xà vĩ,
Cảnh gian nan bá tánh hầu kề.
Thấy chúng sanh còn hơĩ say mê,
Khùng chỉ rõ đường tà nẻo chánh.
Ta là kẻ vô hình hửu ảnh,
Ẩn xác phàm gìn Đạo Thích Ca.
Làm gian ác là quỉ là ma,
Làm chơn chánh là Tiên là Phật.
Hiếm những kẻ không nhà không đất,
Mà giàu sang chẳng xót thương giùm.
Có lỡ lầm chưởi mắng um sùm,
Thêm đánh đập khác nào con vật.
Ăn không hết lo dành lo cất,
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi?
Phật Tây Phương vốn tánh từ bi,
Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi.
 

        TRANG 9


 Khùng cả tiếng kêu dân ơi hỡi,
Hãy giúp cho kẻ đói mới nhằm.
Đến loạn ly khổ hạnh khỏi lâm,
Còn hơn đúc chuông đồng phật bự.
Chẳng làm phước đễ làm hung dữ,
Rồi vào chùa lạy Phật mà trừ.
Phật Tây Phương có lẽ hiểu dư,
Dụng tâm ý chứ không dụng vật.
Muốn bổn đạo tánh tình chơn chất,
Rèn lòng hiền thương xót lẫn nhau .
Kể từ rày vàng lộn với thau,
Phật, Tiên, Thánh cùng nhau xuống thế.
Cứu bá tánh không cần lễ mễ,
Đễ dắt dìu đạo lý rành đường.
Nước Nam Việt nhằm cõi Trung Ương,
Sau sẽ có Phật Tiên tại thế.
Khuyên sư vãi bớt dùng của thế,
Gắng công tu đặng có xem đời.
Tu thật tâm thì được thảnh thơi,
Tu giả dối thì lao thì lý.
Khùng khuyên hết kẻ ngu người trí,
Rán tĩnh tâm suy nghĩ Đạo mầu.
Chuyện huyền cơ bí hiểm cao sâu,
Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh.
Các chư Phật không khi nào rảnh,
Tâm từ bi vẫn nhớ chúng sanh.
Các chư Thần tuần vãng năm canh,
Về Thượng giái tâu qua Thượng Đế.
Sổ tội ác thì vô số kể,
Còn làm nhơn thì quá ít oi.
Hội công đồng xem xét hẳn hòi,
Sai chư tướng xuống răn trần thế.
Đau nhiều chứng dị kỳ khó kể,
Sắp từ nay lao khổ đến cùng.
Kẻ dương gian khó nỗi thung dung,
Người bạo ác không toàn tánh mạng.
Đường đạo lý chớ nên chán nản,
Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm.
Phật Tây Phương thiệt quá xa xăm,
Phải tìm kiếm ở trong não trí.
Sau đến việc sơn băng kiệt thủy,
Khùng thảm thương bá tánh quá chừng.
Nhìn xem trần nước mắt rưng rưng ,
Cảnh áo não kể sao cho xiết .
Ta dạy dỗ là vì tình thiệt,
Cho bá gia rõ biết người Khùng.
Thấy dương trần làm dữ làm hung,
Nên khuyên nhủ cho người lương thiện.
Chữ Lục Tự trì tâm bất viễn,
Thì lâm nguy có kẻ cứu mình.
 

        TRANG 10


 Ai lòng nhơn hoặc chép hay in,
Mà truyền bá đặng nhiều phước đức.
Trong bá tánh từ nay buồn bực,
Khùng yêu dân chỉ rõ Đạo mầu.
Rán trì tâm tưởng niệm canh thâu,
Nằm đi đứng hay ngồi chẳng chấp.
Việc biến chuyển Thiên Cơ rất gấp,
Khuyên chúng sanh hãy rán tu hành.
Cầu linh hồn cho được vãng sanh,
Đây chỉ rõ đường đi nước bước.
Hãy tưởng Phật đừng làm bạo ngược,
Ta phần hồn dạo khắp thế gian.
Vào xác trần nước mắt chứa chan,
Khắp lê thứ nghe lời thì ít.
Chốn sơn lãnh bây giờ mù mịt,
Cho nên dân dạy chẳng nghe lời.
Kể từ nay nói chuyện chiều mơi,
Chớ chẳng nói dông dài khó hiểu.
Cờ đã phất còn chờ nước chiếu,
Mà còn ăn con chốt làm chi?
Ai là người quân tử tu mi,
Phải sớm xử thân mình cho vẹn.
Chừng lập Hội khỏi thùa khỏi thẹn,
Với Phật Tiên cũng chẳng xa chi.
Lời cao siêu khuyên hãy rán ghi,
Ta ra sức dắt dìu bá tánh.
Quyển 3: Sấm Giảng

TRANG 1

Ngồi trên đỉnh núi liên đài,
Tu hành tầm Đạo một mai cứu đời.
Lan thiên một cõi xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh thơi vô cùng.
Hiu hiu gió thổi lạnh lùng,
Phất phơ liễu yếu lạnh lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng anh.
Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
Bồng Lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.
Dạo chơi tầm bực tri âm,
Nay vì thương chúng trần gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch đã rồi,
Đào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.
Phong trần tâm đã rời xa,
Ngọc Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng xanh,
Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.
Xuống trần lỡ khóc lỡ cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào sấu nọ hóa long,
Trần gian mới rõ tấm lòng Thần Tiên.
Thương đời ta mượn bút nghiên,
Thở than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc con ,
Thân này thương chúng hao mòn từ đây.
Minh Hòang chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế sự còn đầy gian truân.
Đò đưa cứu kẻ trầm luân,
Đặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.
Thảm thương thế sự lắm ôi,
Dẫy đầy thê thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục tỉnh một khi,
Rước đưa người tục tu trì xa khơi.
No chiều rồi lại đói mơi,
Dương trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
Cháo rau đỡ dạ tháng ngày cho qua.
Nhắn cùng bổn đạo gần xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
Đặng coi Tiên Thánh lầu đài quốc vương.
Niệm Phật nào đợi mùi hương,
Miễn tâm thành kính tòa chương cũng gần.
Lao xao bể Bắc non Tần,
Quân phiên tham báu xa gần cũng qua.
Tranh phân cho rõ tài ba,
Cùng nhau giành giựt mới là thây phơi.

TRANG 2

Khổ lao đà sắp đến nơi,
Thế gian bớt miệng kêu mời cõi âm.
Dầu cho có ở xa xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương trần.
Ngũ hành cùng các chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng sanh.
Chuông kia treo sợi chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu trung hãy liệu cho xong,
Đến chừng gặp chúa mới mong trở về.
Bây giờ kẻ Sở người Tề,
Hiền lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.
Hữu phần thì cũng hữu duyên,
Sửa tâm hiền đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng Lai.
Mai sau nhiều cuộc đất cày,
Đau nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long Hoa,
Đặng coi hiền đức được là bao nhiêu.
Gian tà hồn xác cũng tiêu,
Thảm thương bá tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận thấp cao,
Thương trong lê thứ xáo xào từ đây.
Chinh chinh bóng xế về tây,
Đoái nhìn trần thế xác thây ê hề.
Thương trần Ta cũng rán thề,
Đặng cho bá tánh liệu bề tu thân.
Tu hành chẳng được đức ân,
Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền Ta dạy mấy lời,
Đặng cho trần thế thức thời tu thân.
Nào là luân lý Tứ Ân,
Phải lo đền đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng vuông tròn,
Long Vân đến hội lầu son dựa kề.
Thương đời văn vật say mê,
Làm điều gian ác thảm thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu chực đài mây cũng gần.
Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
Qua sông nhờ được cầu Lam,
Tu hành nào đợi chùa am làm gì.
Bây giờ bạc lộn với chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say mê,
Trung lương chánh trực dựa kề đài mây.

TRANG 3

Mảng lo gây gổ tối ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền lương.
Thân này ăn tuyết nằm sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế trần.
Theo Thầy giảng dạy nhiều lần,
Dương gian nào biết thế trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn tai,
Qua nơi khổ não mặc ai chê cười.
Bạc đâu dám sánh vàng mười,
U mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giã từ sơn lãnh lâm tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.
Ở rừng bạn với cáo cầy,
Bây giờ xuống thế cáo cầy lìa xa.
Thiên cơ biến đổi can qua,
Gẫm trong thế giới còn đôi ba phần.
Mau mau kíp kíp chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội này.
Tuần hườn Thiên Địa đổi xây,
Cảm thương trần hạ lòng đây chẳng sờn.
Cũng còn kẻ ghét người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ duơn của Thầy.
Hổ lang ác thú muôn bầy,
Lớp bay lớp chạy sau này đa đoan.
Ai mà ăn ở nghinh ngang,
Đón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước vô môn,
Đáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.
Khuyên người hữu phước giàu sang,
Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Để sau khó đứng khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.
Ai mà ăn ở ngược xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mãng xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương trần.
Ai mà tu tỉnh chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có Thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần lo,
Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.
Tu là tâm trí nhu mì ;
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong .
Tu cầu cứu vớt Tổ Tông,
Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,
Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.
Người tu phải lánh hơi men,
Đừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.

TRANG 4

Tu là sửa trọn ân tình,
Tào khang chồng vợ bố kình đừng phai.
Tu cầu Đức Phật Như Lai,
Cứu dân ra khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.
Ra đời xưng hiệu Khùng Điên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì.
Tu không cần lạy cần quì,
Ngồi đâu cũng sửa dậy thì mới mau.
Trí hiền tâm đức chùi lau,
Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.
Vinh hoa phú quý chẳng màng,
Ra oai ra lực cỡi thòan xa chơi.
Con sông dòng nước chiều mơi,
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn đạo hiểu thông,
Thiên cơ đạo lý để lòng mới thôi.
Chữ vinh chữ nhục mấy hồi,
Đến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.
Hiểu rồi những việc lao đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.
Nghinh ngang hỗn ẩu phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm giềng phải ở thật thà,
Dù không quen biết cũng là như quen.
Ở cho cha mẹ ngợi khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp dùm.
Xác thân là cái gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.
Cho rồi nhơn nghĩa mới hay,
Lễ nghi phong hóa đổi thay làm gì?
Từ đây biến đổi dị kỳ,
Dương thế chuyện gì cũng có chuyển lay.
Rèn tâm cho được thẳng ngay,
Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở trong trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn ngang.
Hung hăng ỷ của giàu sang,
Chẳng kiêng Trời Phật mê man ỷ tiền.
Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.
Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu tinh hư mình.

TRANG 5

Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia cang.
Nghiêm đường chịu lịnh cho an,
Lọan luân cang kỷ hổ mang tiếng đời.
Anh em đừng có đổi dời,
Phụ phàng dưa muối xe lơi nghỉa tình.
Tuy là trời đất rộng thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.
Vô duyên chưa nói mà cười,
Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.
Phải gìn dục vọng lòng tà,
Đừng chiều theo nó vậy mà hư thân !
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.
Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại tình.
Đi thưa về cũng phải trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.
Công là phải sửa làm sao,
Làm ăn các việc tầm phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Đừng cho công việc hớ hênh mới là.
Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi tắn đứng đi dịu dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.
Ngôn là lời nói mặc dầu,
Cũng cho nghiêm chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Đừng dùng lời tiếng phang ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.
Hạnh là đức tính phải không ?
Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.
Dạy rồi những chuyện đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi-lầm chớ có hùng hào,
Đừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.
Đem lời hiền đức tốt tươi,
Đặng mà giáo hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.
Nam Mô sáu chữ Di Đà,
Từ bi tế độ vậy mà chúng sanh.
Xưa nay sáu chữ lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.
Trì tâm thì quá ít oi,
Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.

TRANG 6

Rạch tim đem để nó vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.
Để sau đến việc tả tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.
Tu hành nhiều kẻ chẳng ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế-sự trần hoàn,
Người hung người ác tà gian cũng nhiều.
Thương đời ta mới đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.
Những người có của tiền dư,
Hãy nên bố thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện ly kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi !
Tại sao chẳng cúng chè xôi ?
Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn hoa hòe,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.
Ai chê khờ dại cũng cam,
Chớ Tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt mài,
Đừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.
Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị dối mới hầu thấy Ta.
Đừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.
Chết rồi cũng bớt cóc keng,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Đàn nhu thầy lễ cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng ?
Lại thêm đờn địch từng tưng,
Đem con heo sống mà dưng làm gì ?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị kỳ giả dối hay không ?
Nếu không thì trả lời không,
Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời Ta luống sầu bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.
Rung đùi ngâm chuyện trên trời,
Tình duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.
Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đở cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
Đợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.

TRANG 7

Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại tồn,
Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.
Mấy anh thầy thuốc Lang sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng phiền,
Đồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.
Muốn sau dựa được Các Lân,
Hãy nên trao sửa hiền nhân mới là.
Những người quê dốt thật thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.
Lập đời mới biết thấp cao,
Bây giờ chưa biết ai thau ai chì.
Đời xưa có Ngũ Viên Kỳ,
Đem tài học thuốc hiến thì cho dân.
Người xưa còn chẳng cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Để tâm yên lặng như tờ,
Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thể nao.
Luận xem thế sự thấp cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.
Bớt bỏ rình rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.
Là lời truyền giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn mình muốn đãi làng thôn,
Thì là tự ý đáp ngôn cho người.
Gẫm trong thế sự nực cười,
Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.
Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục Liên cứu mẹ bằng nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ bi.
Ai ai hãy rán mà suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ ràng.
Làm tuần trà rượu xình xoàng,
Rồi thì chửi lộn mà an nỗi gì ?
Dương trần làm chuyện dị kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ theo,
Chết rồi tế lễ bò heo làm gì ?
Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở lung lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.

TRANG 8

Đạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.
Thôi thôi bớt miệng hùng anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân tử làm chi,
Của đồ hổ bịt vậy thì xưng hô.
Lũ đàng lũ điếm hồ đồ,
Anh hùng quân tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười chơi,
Chớ không ra sức giúp đời điều chi.
Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn phi.
Khuyên răn trần thế một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương gian làm huyễn nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.
Hò reo giục trống nhiều câu,
Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.
Đừng hò đừng réo làm chi,
Nghinh ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng mặc tình,
Nói cho rõ rệt dân tin không là.
Quan Âm Nam Hải Phổ Đà,
Cùng Thầy ra lịnh nên Ta giáo truyền.
Thánh Thần không phải thiếu tiền,
Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.
Nam Mô Quan Âm Như Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương trần.
Khuyên đừng chưởi Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế trần chẳng kiêng.
Lưỡng Thần ghi chép liên miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thuợng Đế Ngọc Hoàng,
Dương trần hung ác đa đoan quá nhiều.
Chúng sanh ngang ngược làm liều,
Ngọc Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh Vương khó đứng khôn ngồi,
Thảm thương lê thứ mắc hồi gian truân.
Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
Quí yêu bá tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.
Lời khuyên xưa cũng một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn ngoan nghe nói ngẩn ngơ,
Ngu si thì tưởng như thơ biếm đời.

TRANG 9

Ở đâu cũng Phật cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn Thù Bồ Tát từ bi,
Chèo tuyền Bát Nhã cứu thì trần gian.
Gió đưa lướt sóng buồm loan,
Rước người tu niệm xuê xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu bđương.
Bàn môn tài phép nào tường,
Kêu Trời giậm Đất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần hạ liệu toan,
Chớ theo tả đạo mà tan xác hồn.
Nó làm nhiều phép nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng sanh.
Thành binh sái đậu cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.
Bây giờ bất luận người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn đạo rõ lòng,
Ấy là chơn chánh mới hòng vinh vang.
Địa Tiên tài phép đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê man mắt trần.
Phật truyền thâu hết phép Thần,
Cứu an bá tánh một lần nạn nguy.
Phiên binh bốn phía tứ vi,
Kể sao cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.
Kẻ hung chừng đó làm mồi,
Cho bầy ác thú đền bồi tội xưa.
Bây giờ còn mãi lọc lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.
Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Đến đó Ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Đế giữa Trời định phân.
Thiên Hoàng mở cửa Các Lân,
Địa Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không.
Nhơn Hoàng cũng lấy lẽ công,
Cũng đồng trừng trị kẻ lòng tà gian.
Ấy là đến lúc xuê xang,
Tam Hoàng trở lại là đời Thượng Nguơn.
Khuyên dân lòng chớ có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.
Mấy người còn được xác thân,
Thì là Đài Ngọc Các Lân mới kề.

TRANG 10

Bây giờ kẻ nhún người trề,
Chê ta rằng dại rằng khờ cũng cam.
Dương trần bỏ bớt tánh tham,
Đừng chơi cờ bạc đừng làm ác gian.
Để sau coi Hội coi hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.
Điếm đàng đĩ thõa chớ gần,
Để sau xem thấy non Tần xôn xao.
Tuy nghèo dùng đỡ cháo rau,
Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.
Đừng quen thói cũ làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa ta cũng làm thơ,
Mà đời trần hạ làm ngơ ít nhìn.
Dạy cho trần thế phỉ tình,
Đàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát bộ là thường,
Để sau Phật hát tỏ tường cho xem.
Cải lương tuồng ấy cũ mèm,
Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới lăng xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.
Hạ-nguơn lòng dạ đổi dời,
Bây giờ khổ não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của Thầy,
Để chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.
Tây Phương Thầy lại quá xa,
Nên ta mới nói cạn lời dân nghe.
Đừng ham lên ngựa xuống xe,
Ăn xài phí của lụa the làm gì.
Xuống trần Ta dạy cố lỳ,
Cốt cho trần thế nghe thì mới thôi.
Ngày nay xe lết xe lôi,
Đúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.
Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê,
Chúng sanh thế giới ê hề thây phơi.
Trạng Trình truyền sấm mấy lời,
Ngày nay dân chúng vậy thời rán tri.
Hiền nhơn bổn phận tu mi,
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Chúng sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.
Trên Trời xuất hiện Tử Vi,
Quang minh sáng suốt vậy thì dân ôi !
Thương dân khó đứng khôn ngồi,
Xót xa dạ Ngọc bồi hồi tâm Trung.
Gió dông thì cội cây rung,
Phương xa có giặc thung dung đặng nào ?
Trời tây chúng nó hùng hào,
Đem lòng gây gổ máu đào mới tuôn.

TRANG 11

Cầu Trời cho chúng qua truông,
Thế gian yên lặng hát tuồng khải ca.
Tây Phương tuy ở cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.
Ước mong dân khỏi nạn tai,
Dắt dìu Tiên cảnh Bồng Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.
Mẹ cha là kẻ trọng ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi !
Ta là thân phận làm tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu tài,
Khuyên dân nên hãy miệt mài chữ Tu.
Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.
Học theo mối đạo làm con,
Luận xem học mới mấy đon đời nầy.
Văn minh sửa mặt sửa mày,
Áo quâ�n láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt hoa.
Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,
Chẳng trau hiền đức học hành làm chi ?
Khôn ngoan thời những chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ bại u mê hơn mình.
Tự do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả lơi.
So hình sửa sắc chiều mơi,
Đặng làm những chuyện trái đời vô liêm.
Cớ sao chê cổ trọng kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.
Thấy đời trần hạ thon von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.
Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả lê.
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.
Chẳng lo rèn trí lập thân,
Để làm xảo trá khổ thân sau nầy.

TRANG 12

Giáo-viên các sở các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.
Giúp đời đừng đợi trả ơn,
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.
Đánh liều Ta cũng nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.
Vinh hoa như thể bọt bèo,
Hiền lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia Tĩnh triều Minh,
Nàng Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.
Tuy là lưu lạc bôn ba,
Đến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa ta cũng mặc tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.
Bá gia kẻ thấp người cao,
Hiền thần hiếu nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.
Thân Ta, Ta chẳng tiếc chi,
Miễn cho bá tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc sâu xa,
Chúng-sanh tưởng Phật thì là hãy coi.
Tháng ngày như thể đưa thoi,
Nguyện cầu thế giới bớt ngòi chiến tranh.
Ngồi buồn dân gặp chiếu manh,
Ta cho bá-tánh bức tranh vô hình.
Ai ai cũng rán xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn dài,
Hiến cho trần hạ một bài ngụ ngôn.
Tới đây Ta giã làng thôn,
Ngọc Thanh lui gót phi bôn Nam bKỳ.
Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu mi trung thần.
Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
Ta khuyên dân chúng ân cần nhìn xem.
Ra đời dạy dỗ anh em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.
Người tu như thể bá tòng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng.
Chừng nào ta gặp Hớn Hoàng,
Chúng sanh mới hết phàn nàn số căn.
Mạnh Tông xưa cũng khóc măng,
Đất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu-nhi.
Mặc ai nhạo báng khinh khi,
Phần ta niệm chữ từ bi độ đời.
Muốn xem được Phật được Trời,
Thì là phải rán nghe lời dạy răn.

TRANG 13

Bá gia cùng các chư tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Đời cùng tu gấp kịp thì,
Đặng xem báu ngọc ly kỳ Năm Non.
Phật thương bổn đạo như con,
Muốn cho bổn đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.
Tới đây cũng dứt giảng kinh,
Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam mô lòng sở nguyện cầu,
Chúc cho bá tánh muôn sầu tiêu tan.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (3 niệm)

Cầu Phật Tổ, Phật Thầy, quan Thượng Đẳng Đại Thần, chư quan Cựu Thần, chư vị Sơn Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ độ bá tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải thoát mê ly.
   

Ý kiến bạn đọc (0)

Ảnh Đẹp

Yêu Thương

"Hận thù không thể hóa giải bởi hận thù mà bằng tình yêu thương; đây là chân lý muôn...

Sẻ Chia

"Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn nến và cuộc đời của ngọn nến ấy không vì vậy mà ngắn...